Bản Dịch Chính
Sách
Chương

1 Vào lúc ban đầu {của sự} Thiên Chúa sáng tạo các tầng trời và đất

In the beginning God created the heaven and the earth.

2 thì đất là vô hình và trống không; sự mờ tối ở trên mặt vực. Thần của Thiên Chúa vận hành trên mặt nước. [Chữ thần được dùng trong câu này để chỉ năng lực của Thiên Chúa. Trái đất lúc bấy giờ là một khối hình cầu được bao phủ bởi nước nhưng không có một hình thể nào và cũng không có gì trên mặt đất khác hơn là nước bao phủ khắp bề mặt của đất. Có thể bấy giờ trái đất được bao phủ bằng một lớp nước đá; vì chưa có sức nóng từ mặt trời sưởi ấm trái đất.]

And the earth was without form and void, and darkness was upon the face of the deep. And the Spirit of God moved upon the face of the waters.

3 Thiên Chúa phán: Hãy có sự sáng! Thì có sự sáng.

And God said, "Let there be light"; and there was light.

4 Thiên Chúa thấy sự sáng là tốt lành, Ngài phân rẽ sáng ra khỏi tối.

And God saw the light, that it was good; and God divided the light from the darkness.

5 Thiên Chúa đặt tên sự sáng là ban ngày, sự tối là ban đêm. {Vậy, có} buổi tối và buổi sáng; {ấy} là ngày Thứ Nhất. [Buổi tối là thời điểm bắt đầu một đêm, trung bình là vào lúc 6 giờ chiều. Buổi sáng là thời điểm bắt đầu một ngày, trung bình là vào lúc 6 giờ sáng. Một ngày trung bình 24 tiếng đồng hồ, bao gồm một ban đêm và một ban ngày. Ngày mới bắt đầu từ buổi tối, sau khi ngày hiện tại kết thúc.]

And God called the light Day, and the darkness He called Night. And the evening and the morning were the first day.

6 Thiên Chúa lại phán: Hãy có một khoảng không ở giữa nước và nó hãy phân rẽ nước với nước!

And God said, "Let there be a firmament in the midst of the waters, and let it divide the waters from the waters."

7 Thiên Chúa đã làm nên khoảng không, phân rẽ giữa nước bên dưới khoảng không khỏi nước bên trên khoảng không. Thì có như vậy. [Vào lúc ban đầu, có thể chung quanh trái đất là một vòng đai nước đá cho đến khi Cơn Lụt Lớn xảy ra.]

And God made the firmament, and divided the waters which were under the firmament from the waters which were above the firmament; and it was so.

8 Thiên Chúa đặt tên khoảng không là trời. {Vậy, có} buổi tối và buổi sáng; {ấy} là ngày Thứ Nhì.

And God called the firmament Heaven. And the evening and the morning were the second day.

9 Thiên Chúa lại phán: Những nước ở dưới trời phải tụ lại một nơi, và phải có chỗ khô cạn bày ra! Thì có như vậy.

And God said, "Let the waters under the heaven be gathered together unto one place, and let the dry land appear"; and it was so.

10 Thiên Chúa gọi chỗ khô cạn là đất, còn nơi nước tụ lại thì Ngài gọi là các biển. Thiên Chúa thấy điều đó là tốt lành.

And God called the dry land Earth; and the gathering together of the waters called He Seas; and God saw that it was good.

11 Thiên Chúa lại phán: Đất phải sinh cây cỏ; cỏ kết hạt giống, cây ăn trái kết quả, tùy theo loại mà có hạt giống trong mình trên đất! Thì có như vậy.

And God said, "Let the earth bring forth grass, the herb yielding seed, and the fruit tree yielding fruit after his kind, whose seed is in itself, upon the earth"; and it was so.

12 Đất sinh cây cỏ: cỏ kết hạt tùy theo loại, cây kết quả có hạt trong mình, tùy theo loại. Thiên Chúa thấy điều đó là tốt lành.

And the earth brought forth grass, and herb yielding seed after his kind, and the tree yielding fruit, whose seed was in itself, after his kind; and God saw that it was good.

13 {Vậy, có} buổi tối và buổi sáng; {ấy} là ngày Thứ Ba.

And the evening and the morning were the third day.

14 Thiên Chúa lại phán: Hãy có những vì sáng trong khoảng không trên trời, để phân ra ngày với đêm, và để chúng làm những dấu, để định những mùa, những ngày, và những năm; [Danh từ “mùa” trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ của Thánh Kinh dùng để chỉ khoảng thời gian được ấn định hoặc kỳ lễ hội. Vì ngày trăng mới là thời điểm được Đức Chúa Trời ấn định và cũng là ngày lễ do Đức Chúa Trời quy định, nên chữ mùa trong Sáng Thế Ký 1:14 còn hàm ý là “tháng”.]

And God said, "Let there be lights in the firmament of the heaven to divide the day from the night; and let them be for signs and for seasons, and for days and years;

15 lại để chúng làm những vì sáng trong khoảng không trên trời mà soi xuống đất! Thì có như vậy.

and let them be for lights in the firmament of the heaven to give light upon the earth"; and it was so.

16 Thiên Chúa làm nên hai vì sáng lớn; vì lớn hơn để cai trị ban ngày, vì nhỏ hơn để cai trị ban đêm; Ngài cũng làm những ngôi sao.

And God made two great lights: the greater light to rule the day, and the lesser light to rule the night. He made the stars also.

17 Thiên Chúa đặt chúng trong khoảng không trên trời, để soi sáng đất,

And God set them in the firmament of the heaven to give light upon the earth,

18 để cai trị ban ngày và ban đêm, để phân rẽ sáng ra khỏi tối. Thiên Chúa thấy điều đó là tốt lành.

and to rule over the day and over the night, and to divide the light from the darkness. And God saw that it was good.

19 {Vậy, có} buổi tối và buổi sáng; {ấy} là ngày Thứ Tư.

And the evening and the morning were the fourth day.

20 Thiên Chúa lại phán rằng: Nước hãy có nhiều bầy vật có linh hồn sống và di động; và hãy có loài chim bay phía trên mặt đất, trong khoảng không trên trời.

And God said, "Let the waters bring forth abundantly the moving creature that hath life, and fowl that may fly above the earth in the open firmament of heaven."

21 Thiên Chúa sáng tạo những khủng long {biển}; mọi linh hồn sống và động mà nước sinh ra thật nhiều tùy theo loại; mọi loài chim tùy theo loại. Thiên Chúa thấy điều đó là tốt lành.

And God created great whales and every living creature that moveth, which the waters brought forth abundantly after their kind, and every winged fowl after his kind; and God saw that it was good.

22 Thiên Chúa ban phước cho chúng mà phán rằng: Hãy sinh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy nước trong biển; còn những loài chim hãy thêm nhiều trên đất.

And God blessed them, saying, "Be fruitful and multiply, and fill the waters in the seas, and let fowl multiply on the earth."

23 {Vậy, có} buổi tối và buổi sáng; {ấy} là ngày Thứ Năm.

And the evening and the morning were the fifth day.

24 Thiên Chúa lại phán: Đất phải sinh ra linh hồn sống tùy theo loại: súc vật, côn trùng, và vật sống của đất tùy theo loại; thì có như vậy.

And God said, "Let the earth bring forth the living creature after his kind: cattle and creeping thing and beast of the earth after his kind"; and it was so.

25 Thiên Chúa làm nên vật sống của đất tùy theo loại, súc vật tùy theo loại, và côn trùng trên đất tùy theo loại, Thiên Chúa thấy điều đó là tốt lành.

And God made the beast of the earth after his kind, and cattle after their kind, and every thing that creepeth upon the earth after his kind; and God saw that it was good.

26 Thiên Chúa lại phán: Chúng Ta hãy làm ra loài người theo hình Chúng Ta, như tượng Chúng Ta, để họ cai trị loài cá biển, loài chim trời, loài súc vật, khắp cả đất, và mỗi loài côn trùng bò trên mặt đất. [Thiên Chúa tự xưng Chúng Ta trong câu này và các câu: Sáng Thế Ký 3:22; 11:7. Chữ Chúng Ta được dùng ở đây là để chỉ về ba thân vị của Thiên Chúa, không phải chỉ về Thiên Chúa và các thiên sứ. Vì không chỗ nào khác trong Thánh Kinh nói rằng, Thiên Chúa dựng nên loài người theo hình và tượng của thiên sứ. Và các thiên sứ thì có các hình dáng khác nhau.]

And God said, "Let Us make man in Our image, after Our likeness; and let them have dominion over the fish of the sea, and over the fowl of the air, and over the cattle, and over all the earth and over every creeping thing that creepeth upon the earth."

27 Thiên Chúa đã sáng tạo loài người như hình Ngài; Ngài đã sáng tạo loài người như hình Thiên Chúa; Ngài đã sáng tạo họ, nam và nữ.

So God created man in His own image, in the image of God created He him; male and female created He them.

28 Thiên Chúa ban phước cho họ và phán: Hãy sinh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất; hãy làm cho đất phục tùng, hãy quản trị loài cá biển, loài chim trời cùng mỗi vật sống hành động trên mặt đất.

And God blessed them, and God said unto them, "Be fruitful and multiply, and replenish the earth, and subdue it; and have dominion over the fish of the sea, and over the fowl of the air, and over every living thing that moveth upon the earth."

29 Thiên Chúa lại phán: Này, Ta đã ban cho các ngươi mọi thứ cỏ kết hạt mọc khắp mặt đất, và mọi loài cây sinh quả có hạt giống; ấy sẽ là thức ăn cho các ngươi.

And God said, "Behold, I have given you every herb bearing seed which is upon the face of all the earth, and every tree in which is the fruit of a tree yielding seed; to you it shall be for meat.

30 Còn mọi vật sống của đất, mọi chim trời, và mọi côn trùng bò trên đất có hồn sống thì Ta đã ban cho mọi thứ cỏ xanh làm thức ăn! Thì có như vậy.

And to every beast of the earth, and to every fowl of the air, and to every thing that creepeth upon the earth wherein there is life, I have given every green herb for meat"; and it was so.

31 Thiên Chúa thấy mọi việc Ngài đã làm thật rất tốt lành. {Vậy, có} buổi tối và buổi sáng; {ấy} là ngày Thứ Sáu.

And God saw every thing that He had made, and behold, it was very good. And the evening and the morning were the sixth day.